Kỷ cương là gì

Đời sống đất nước đang rất cần phát huy dân chủ thực chất và tăng cường kỷ cương, phép nước. Kết quả phòng, chống tham nhũng từ đầu nhiệm kỳ Đại hội XII của Đảng đến nay cho thấy, cuộc chiến đấu này càng có kết quả thì dân chủ trong xã hội nói chung, cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp nói riêng càng được nâng cao, niềm tin của nhân dân và sự đồng thuận của xã hội càng được củng cố. Do đó, trong thời gian tới cần phải tiếp tục giải quyết đúng đắn, hài hòa mối quan hệ giữa phát huy dân chủ với tăng cường kỷ luật, kỷ cương vì điều đó sẽ quyết định sự thành bại của công cuộc đổi mới và sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Bài dẫn từ Tạp chí Cộng sản.

Bạn đang xem: Kỷ cương là gì


*

1-Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước ta tiếp tục ban hành nhiều chủ trương, chính sách, pháp luật nhằm phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm thực hiện quyền làm chủ của nhân dân. Dân chủ được tiếp cận trên những phương diện chủ yếu sau:

Thứ nhất, dân chủ với giác độ là phương thức tổ chức nhà nước và chế độ chính trị (các hình thức, nguyên tắc, phương thức thực thi quyền lực nhà nước và quản lý nhà nước). Ở đây, dân chủ là khẳng định quyền lực nhà nước là của nhân dân, nhân dân quyết định hình thức, quy mô, phương thức tổ chức và thực thi quyền lực nhà nước; bộ máy nhà nước, công chức nhà nước chỉ là người được nhân dân ủy quyền và là người phục vụ nhân dân. Dân chủ là bảo đảm cho nhân dân tham gia ngày càng nhiều và hiệu quả trong công việc quản lý nhà nước, quản lý xã hội. Nhân dân là chủ thể duy nhất của quyền lực nhà nước, của hệ thống chính trị và là chủ thể để Nhà nước và các thể chế chính trị phục vụ. Cách tiếp cận nguồn gốc của quyền lực để trả lời quyền lực từ đâu mà có? Ai là chủ thể đích thực của quyền lực nhà nước? Phương pháp tiếp cận này mang dấu ấn của chuyên ngành chính trị học.

Thứ hai, dân chủ như là những nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt của tổ chức chính trị, các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội. Nguyên tắc dân chủ đòi hỏi các cơ quan lãnh đạo của các tổ chức phải được thành lập thông qua bầu cử dân chủ và có thể bị bãi miễn; quy định quyền hạn và trách nhiệm của các bộ phận cấp dưới, cấp cơ sở đối với cơ quan lãnh đạo cấp trên và cấp cao nhất; quy định mối quan hệ giữa cá nhân và tổ chức, vai trò của các thành viên, hội viên trong quá trình đưa ra các quyết định của tổ chức (thiểu số phục tùng đa số, đa số tôn trọng và bảo vệ thiểu số). Có một số nguyên tắc phổ biến hiện nay như: nguyên tắc dân chủ, nguyên tắc tập trung dân chủ, nguyên tắc dân chủ đồng thuận.

Thứ ba, dân chủ là giá trị xã hội, thể hiện ở trình độ đạt được về bảo đảm các quyền, nghĩa vụ, tự do của công dân và sự tham gia của họ vào đời sống xã hội. Từ cách tiếp cận này, nhiều tổ chức quốc tế đưa ra các tiêu chí để đánh giá mức độ dân chủ của các quốc gia.

Thứ tư, dân chủ là lý tưởng nhân sinh quan, thế giới quan, mục đích hoạt động của các lực lượng chính trị - xã hội. Điều đó có nghĩa là, dân chủ trở thành mục tiêu có tính cương lĩnh cho việc tổ chức và hoạt động của các lực lượng chính trị - xã hội nào đó. Cách tiếp cận từ mục tiêu của dân chủ sẽ giúp chúng ta lý giải mục tiêu hướng đến của các thiết chế và bộ máy nhà nước để thỏa mãn và hiện thực hóa những nhu cầu và khát vọng của người dân. Dân chủ là chính quyền hành động nhân danh và vì lợi ích của nhân dân.

Dân chủ được xem vừa là mục tiêu, vừa là động lực của công cuộc đổi mới. Việc thực hiện dân chủ ở cơ sở trong hoạt động của cơ quan, đơn vị trong thời gian qua đã phát huy được quyền và nghĩa vụ của cán bộ, công chức, viên chức, người lao động; các nội dung, quy trình, hình thức thực hiện dân chủ ở cơ sở trong cơ quan, đơn vị được thể chế hóa, bảo đảm cho cán bộ, công chức, viên chức và người lao động được biết, được tham gia, được quyết định và được giám sát, kiểm tra trên cơ sở thực hiện các quy định của pháp luật.

Việc triển khaithực hiện tốtdân chủ trong hoạt động của cơ quan hành chính nhà nước và đơn vị sự nghiệp công lậplàm chocán bộ, công chức, viên chức, người lao động thực hiện tốt nghĩa vụ của mình, có ý thức rèn luyện phấn đấu trong công tác, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao; có lối sống lành mạnh và trung thực; phát huy tinh thần dân chủ trong hoạt động, công tác, tích cực tham gia ý kiến về những việc cán bộ, công chức, viên chức được tham gia ý kiến. Mỗi cán bộ, công chức, viên chức không ngừng rèn luyện để nâng cao năng lực chuyên môn và điều chỉnh lề lối làm việc theo hướng công khai, dân chủ.

Để bảo đảm Quy chế Dân chủ ở cơ sở được vận dụng hiệu quả, việc giải quyết mối quan hệ giữa dân chủ và kỷ luật, kỷ cương trong cơ quan hành chính nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập cần được quan tâm và xử lý hài hòa. Vì nếu dân chủ quá trớn, dân chủ vô tổ chức thì một số người sẽ núp dưới bóng dân chủ để làm điều xấu như lợi dụng dân chủ để vi phạm quy định và lợi ích hợp pháp của Nhà nước, tổ chức và cá nhân, gây rối phá hoại làm mất đoàn kết nội bộ, lợi dụng việc dân chủ để khiếu nại, tố cáo, vu khống, bôi nhọ danh dự người khác hoặc xúi giục, kích động, tung tin thất thiệt, gây khó khăn cản trở cho hoạt động công vụ của cơ quan, đơn vị. Giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa phát huy dân chủ với tăng cường kỷ cương, kỷ luật được thể hiện qua các nội dung sau đây:

Một là, nhận thức đầy đủ, sâu sắc hơn về quan hệ giữa quyền lợi và nghĩa vụ, trách nhiệm của cán bộ, công chức, viên chức, người lao động. Cán bộ, công chức, viên chức, người lao động được Nhà nước bảo đảm các quyền lợi theo quy định của pháp luật, được thực thi quyền làm chủ trong cơ quan, đơn vị. Đồng hành với những quyền lợi cán bộ, công chức, viên chức, người lao động phải tuân thủ pháp luật, kỷ luật, kỷ cương, các quy định của cơ quan, đơn vị. Tất cả những gì là quyền lợi của cán bộ, công chức, viên chức, người lao động thì đó là trách nhiệm, nghĩa vụ của Nhà nước. Cán bộ, công chức, viên chức, người lao động chỉ được làm những gì pháp luật cho phép.

Xem thêm: Mushishi Âm Dương Sư : Hướng Dẫn Mushishi, Âm Dương Sư: Hướng Dẫn Mushishi

Hai là,nhận thức hài hòa, biện chứng hơn về mối quan hệ dân chủ với tập trung trong cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp. Ở Việt Nam, dân chủ và tập trung gắn bó tự nhiên, chặt chẽ trong mối quan hệ: Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ. Sự gắn bó biện chứng giữa dân chủ với tập trung được biểu hiện ở sự thống nhất giữa tập thể lãnh đạo với cá nhân phụ trách; thiểu số phục tùng đa số; cấp dưới phục tùng cấp trên; cá nhân phục tùng tổ chức.

Ba là, nhận thức sâu sắc hơn về quan hệ biện chứng giữa dân chủ với chuyên chính; dân chủ với pháp luật, kỷ cương. Theo đó, dân chủ gắn liền với kỷ luật, kỷ cương; dân chủ và chuyên chính được thể chế hóa bằng pháp luật và được pháp luật bảo đảm. Mọi cán bộ, công chức, viên chức, người lao động đều bình đẳng trước pháp luật. Quyền lợi của cán bộ, công chức, viên chức, người lao động được công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật. Nghiêm trị những cán bộ, công chức vi phạm pháp luật gây mất đoàn kết nội bộ, cản trở việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của cơ quan, đơn vị. Thực hiện dân chủ rộng rãi đi đôi với việc tích cực phòng ngừa và kiên quyết chống tham nhũng, lãng phí bằng sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và của toàn dân; thực hiện đồng bộ các giải pháp chính trị, tư tưởng, tổ chức, hành chính, kinh tế và hình sự.

Trong những năm qua, mặc dù Quy chế Dân chủ ở các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp công lập đã được quan tâm thực hiện nhưng trên thực tế còn một số cán bộ, công chức, viên chức, người lao động chưa ý thức sâu sắc về trách nhiệm, quyền hạn, nghĩa vụ, quyền lợi của mình; chưa có tư duy, phong cách dân chủ, thiếu năng lực làm chủ và chưa hình thành thói quen sống, làm việc theo Hiến pháp và pháp luật. Không ít người, kể cả cán bộ, công chức lãnh đạo, quản lý vẫn nhận thức phiến diện về dân chủ và pháp luật; nguyên tắc tập trung dân chủ trong Đảng và Nhà nước vẫn bị hiểu sai lệch, tách dân chủ khỏi tập trung, đối lập tập trung với dân chủ dẫn đến tập trung quan liêu hoặc tình trạng vô tổ chức, vô chính phủ.

2-Về thực hiện dân chủ trong bối cảnh hiện nay, cần chú ý nhìn nhận đầy đủ và chính xác một số điểm sau:

Thứ nhất, nền dân chủ mà chúng ta đang vận hành thực sự đang trong quá trình hoàn thiện và thực hiện chưa thống nhất, đồng bộ. Các biểu hiện của điều này rất dễ thấy, trước hết đó là các thành tố tạo nên dân chủ ở cơ sở của chúng ta chưa thật đầy đủ. Các quyền của người dân là nền tảng của dân chủ ở cơ sở còn chưa được xác định cụ thể và chưa ăn sâu bám rễ vào đời sống cộng đồng.

Thứ hai, trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng toàn diện, sâu rộng, cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đã và đang phát triển mạnh mẽ, thế giới ngày càng “phẳng”, tư tưởng dân chủ ngày càng có cơ hội lan truyền nhanh chóng. Sẽ có những luồng tư tưởng khác nhau về dân chủ thâm nhập vào đời sống xã hội của chúng ta như một quy luật của sự giao thoa do quá trình hội nhập quốc tế và sự phát triển của khoa học - công nghệ tạo ra. Tính độc quyền thông tin không còn phù hợp và sự lựa chọn các xu hướng dân chủ của người dân sẽ là điều tất yếu. Muốn có được một nền dân chủ mong đợi, phù hợp với điều kiện và hoàn cảnh của chúng ta thì hiển nhiên với cách làm như lâu nay sẽ khó đạt được. Nói cách khác, chúng ta sẽ phải thay đổi cơ bản từ cách tuyên truyền, giáo dục đến thể chế và hành động.

Thứ ba, chúng ta đang xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa trong điều kiện phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Cần lưu ý rằng, nền kinh tế thị trường không phải là một ý thức hệ mà là một hệ thống các tập tục và thiết chế đã được hình thành trong thực tế của các nước phát triển và được kiểm nghiệm qua thời gian với mục tiêu tạo cho mọi cá nhân và xã hội có thể có một đời sống phát triển về phương diện kinh tế. Các đặc tính xác định chủ yếu của một nền kinh tế thị trường là quyết định đầu tư và phân bổ nguồn lực và hàng hóa sản xuất chủ yếu được thực hiện thông qua thị trường.

Với những đặc điểm như trên, có thể nói vai trò của dân chủ ở cơ sở trong sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước hiện nay là rất lớn. Nhưng vai trò đó sẽ không thể có được một cách tự nhiên mà nó chịu tác động của rất nhiều điều kiện có tính ràng buộc. Những tác động của những điều kiện đó có tính biện chứng, nghĩa là chúng thúc đẩy và duy trì lẫn nhau.